Che pham sinh hoc EM

Giải thưởng được trao cho các nhà khoa học nữ xuất sắc trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên và ứng dụng. Giải thưởng Kovalevskaia năm 2010 được trao cho hai nhà khoa học nữ Việt Nam là PGS.TS Lương Chi Mai - phó viện trưởng, trưởng phòng nhận dạng và công nghệ tri thức, Viện Công nghệ thông tin thuộc Viện Khoa học - công nghệ Việt Nam và TS Nguyễn Thị Lộc - trưởng bộ môn sinh thái côn trùng và phòng trừ sinh học, Viện Lúa ĐBSCL. Lễ trao giải thưởng Kovalevskaia sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 8-3.

TS Nguyễn Thị Lộc sinh năm 1956. Nhiều sản phẩm nghiên cứu của bà đã được ứng dụng rộng rãi, tăng hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, môi trường. Bà đã được Thủ tướng và Bộ NN&PTNT tặng bằng khen nhiều lần, được tặng Huân chương Lao động hạng ba.
    
Hơn 30 năm gắn bó với Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), bà dồn tất cả
lực, trí tuệ để nghiên cứu, phát triển cây lúa trổ bông, trĩu hạt. Đó là tiến sĩ (TS) Nguyễn Thị Lộc, người được nhận giải thưởng Kovalevskaia năm 2010.

Năm 1980, đặt chân đến Trung tâm kỹ thuật nông nghiệp ĐBSCL (tiền thân của Viện Lúa ĐBSCL), cô gái trẻ Nguyễn Thị Lộc thấy hụt hẫng khi cơ sở vật chất thiếu thốn, phải đi bằng ghe vào... Đó là ấn tượng đầu tiên vào 31 năm về trước của cô sinh viên miền Bắc vừa tốt nghiệp loại giỏi ngành bảo vệ thực vật Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội. Tình nguyện chọn vùng đất này, cô chấp nhận từ bỏ suất giữ lại trường công tác khi nghĩ nơi mình đến sẽ là “đất dụng võ” cho công việc nghiên cứu khoa học.

9 năm du học xứ người

“Ngày đầu, tôi trợn mắt khi thấy người nông dân múc nước ở kênh lên lắng phèn dùng cho sinh hoạt, có người còn múc nước lã uống, trong khi trên ruộng vừa mới phun thuốc, bón phân hóa học” - TS Lộc nhớ lại ấn tượng đầu tiên.

Nhìn cảnh đó, bà vừa sốc vừa trăn trở nhiều ngày với câu hỏi làm sao nghiên cứu được chế phẩm thay thế những hóa chất độc hại để bảo vệ mùa màng cũng như sức khỏe người nông dân. TS Lộc nói: “Có lẽ điều đó giữ chân tôi lại với vùng đất này. Sau này tôi mới biết nhiều người được phân công về công tác nhưng chỉ ngủ một đêm là bỏ về vì cuộc sống cực quá”.

"Chọn ngành nông nghiệp là tâm nguyện của tôi muốn nghiên cứu những sản phẩm giúp nông dân giảm phần vất vả, mất mùa như mẹ tôi ngày trước.

Hut ham cau


Trong sinh hoạt hàng ngày những chất thải, nước sinh hoạt sẽ được đổ vào hầm cầu và thoát ra ngoài qua hệ thống chung của thành phố
Khi nào thì cần Hut ham cau? Câu hỏi này gần như khá mơ hồ với hầu hết các hộ gia đình. Phần lớn chúng ta thường chỉ liên hệ dịch vụ khi tắc nghẽn hoàn toàn hay hầm cầu, hố gas có mùi. Lúc này thì tình trạng nghẹt khá nặng và tích tụ lâu ngày. Việc xử lý không chỉ khó khăn, mất nhiều thời gian mà còn tốn kém chi phí. Do đó, để giảm thiểu việc nghẹt hầm cầu, tăng tuổi thọ sử dụng hầm cầu, đồng thời bảo vệ sức khỏe cần nhận biết những dấu hiệu hầm cầu cần được làm sạch sau đây. Những dấu hiệu nhận biết khi nào cần Hut ham cau:
Nhà vệ sinh, bếp luôn trong tình trạng nước ứ đọng, không thoát được.
Hệ thống thoát nước có những âm thanh lạ.
Mỗi khi vệ sinh bồn rửa nước thải không thoát đi mà tràn ngược lại.
Bồn cầu chậm xả nước, không thoát nước.
ảnh người mẹ quần quật trên đồng ruộng nuôi tám người con ăn học in sâu trong trí nhớ tuổi thơ tôi. Hình ảnh ấy cũng thôi thúc, động viên tôi vượt qua những trở ngại để học tập, nghiên cứu"
    
Cùng với sức trẻ và nhiệt huyết, cô sinh viên đã đem những kỹ thuật được học ở nhà trường đến với người nông dân. Chính sự miệt mài, cố gắng đó, bà được viện cử đi học thạc sĩ ở Ấn Độ. Khi đi du học, con đầu của bà mới 7 tuổi, đứa nhỏ hơn 3 tuổi.

TS Lộc kể: “Cuộc sống khi đó vất vả lắm, mấy đứa con ở nhà chỉ dựa vào đồng lương ít ỏi của chồng, chỉ đủ ăn 10 ngày, còn lại một tay chồng gồng gánh tăng gia”. Ba tháng đầu, ngày nào bà cũng khóc đẫm gối vì thương chồng, nhớ con. Nhưng trách nhiệm nặng nề của người cán bộ được Nhà nước cử đi học đã xốc tinh thần, bà lao vào học tập, dịch tài liệu. Bảo vệ thạc sĩ với kết quả xuất sắc, bà tiếp tục học lên tiến sĩ. Sau khi xuất sắc bảo vệ luận án tiến sĩ về nấm ký sinh côn trùng, bà được nhận học bổng sau tiến sĩ do Mỹ tài trợ với chuyên ngành công nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật.

Tránh độc cho dân

“Khi tôi đi học, GS.TS Nguyễn Văn Luật - viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL lúc đó - gợi ý bên Liên Xô dùng ong mắt đỏ để trừ sâu, hạn chế dùng thuốc hóa học” - TS Lộc kể. Gợi ý của viện trưởng cũng chung suy nghĩ của bà là muốn học hỏi kiến thức, kỹ thuật từ nước ngoài để góp sức xây dựng nền nông nghiệp VN theo hướng sinh thái bền vững, bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe nhân

Nao vet ho ga


nhất là nông dân.

Ở Ấn Độ, hằng ngày đi học bà đều qua những cánh đồng. Một hôm thấy đám lúa đỏ quạch, bà xắn quần lội xuống ruộng vạch gốc lúa xem. Thấy rất nhiều rầy nâu bám quanh gốc lúa nhưng bên cạnh đó cũng có những con rầy bị chết mọc nấm trắng, bà tự hỏi: “Rầy chết do nấm tấn công hay nấm mọc sau khi rầy chết”. Câu hỏi ấy cứ quanh quẩn trong đầu, bà đặt vấn đề với thầy hướng dẫn luận án tiến sĩ cho phép chọn đề tài “Khai thác tiềm năng phòng trừ sinh học của nấm trắng Beauveria bassiana đối với các loại rầy hại lúa”. Bà bảo vệ thành công luận án tiến sĩ.

Về nước, bà cùng cộng sự bắt tay nghiên cứu và ứng dụng thành công hai loài nấm xanh và nấm trắng để phòng trừ rầy nâu hại lúa và một số loài sâu hại cây trồng khác. Năm 2002, đề tài “Nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng hai chế phẩm sinh học để quản lý các loài sâu hại lúa” của bà được đánh giá xuất sắc về mặt khoa học. Bộ NN&PTNT công nhận “Quy trình sản xuất hai chế phẩm sinh học M.a và B.b để quản lý các loài sâu hại lúa của Viện Lúa ĐBSCL” là tiến bộ kỹ thuật và cho phép ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp.

Sau gần tám năm nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, hai chế phẩm sinh học nấm xanh và nấm trắng đã được đưa vào danh mục thuốc bảo vệ thực vật với tên thương mại là Ometar và Biovip, được phép sử dụng ở VN để phòng trừ bọ xít, rầy hại lúa và bọ cánh cứng hại dừa.

Chế phẩm có tác dụng gây bệnh cho côn trùng và lây lan mầm bệnh từ con rầy đã chết sang con rầy non mới nở nên hiệu quả trừ rầy từ 73-91,5% và giảm chi phí cho nông dân cũng như không gây hại cho người, môi trường. Để người dân dễ dàng sử dụng, TS Lộc tiếp tục cải tiến quy trình sản xuất để hai chế phẩm này chuyển thành dạng bột thấm nước giúp người dân dễ sử dụng hơn.

Trong thời gian qua, dịch rầy nâu bùng phát ở ĐBSCL trong khi lượng chế phẩm không kịp sản xuất đáp ứng nhu cầu. Trăn trở nhiều đêm, TS Lộc cùng cộng sự nghiên cứu “Quy trình sản xuất nhanh chế phẩm trừ sâu sinh học Ometar ở quy mô nông hộ” để chuyển giao cho nông dân. Qua tập huấn, nông dân một số tỉnh đã tự sản xuất chế phẩm với chi phí 50.000 đồng/ha một lần phun. Theo tính toán, việc chuyển giao này đã tiết kiệm cho nông dân hàng ngàn tỉ đồng. Có nông dân gọi điện reo mừng mời bà xuống xem.

Theo TS Lộc, đó là giây phút hạnh phúc nhất trong quãng đời nghiên cứu của mình. Bà tâm niệm rằng: “Nghiên cứu cái gì càng đơn giản càng tốt để ai cũng áp dụng được”.

TS Lộc cho biết đã phát triển hai chế phẩm nấm xanh mới để diệt rầy mềm và rầy chổng cánh hại cam quýt và bông xoài. Ngoài ra, nhà khoa học này cũng nghiên cứu, chuyển giao nhiều quy